LẠM PHÁT LÀ GÌ? ĐẦU TƯ GÌ TRONG THỜI KỲ LẠM PHÁT?

Lạm phát là gì?

Lạm phát là gì? Phải đầu tư gì trong thời kỳ lạm phát để đảm bảo sự an toàn cho “giá trị đồng tiền”?

Sau đại dịch Covid 19 và trong thời kỳ bất ổn chính trị trên toàn thế giới đã ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế chung của thế giới. Chính vì sự bất ổn chính trị, kinh tế và nhiều nguyên nhân khác đã làm tình trạng lạm phát tăng mạnh trên thế giới nói chung cũng như ở từng quốc gia nói riêng. Ta có thể thấy sự hiện diện của lạm phát thông qua “giá” của các mặt hàng đồng loạt tăng dần, có thể hiểu là đồng tiền đang bị mất giá.

1. Lạm phát là gì?

Lạm phát là gì

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.

a. Lạm phát – giá hàng hóa tăng

Mọi hàng hóa trên thị trường đều có giá. Giá của hàng hóa dịch vụ chính là số tiền người mua phải trả để có được hàng hóa dịch vụ đó. Nếu đến một thời điểm, giá mỳ tôm tăng từ 7.000 đ lên 10.000 đ và nhiều hàng hóa khác cũng đồng loạt tăng giá thì người ta sẽ tính đến một hiện tượng của nền kinh tế, đó là lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng là một biểu hiện rõ ràng của lạm phát.

Tuy nhiên, không nhất thiết giá cả của mọi hàng hoá và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình của nhiều hàng hóa tăng lên đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu thì được cho là hiện tượng của lạm phát. Điều đó có nghĩa là khi xem xét lạm phát, người ta dựa trên mức giá trung bình của tất cả hàng hoá và dịch vụ. Và quan trọng là lạm phát không phải là sự tăng lên của mức giá mà là sự tăng lên liên tục của mức giá, điều này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn giữa sự tăng giá do cung cầu trong nên kinh tế.

b. Lạm phát – Sức mua của đồng tiền bị suy giảm

Lạm phát cũng có thể được coi như sự suy giảm sức mua của đồng tiền trong nước so với loại tiền tệ khác. Lúc đó, một đơn vị tiền tệ mua được ít hàng hoá và dịch vụ hơn. Ví dụ, nếu trước đây chỉ cần 15.000 đồng để mua một ổ bánh mì thì khi có lạm phát 15.000đ chỉ mua được nửa gói hoặc một phần ít hơn 01 ổ bánh mì.

Lịch sử đã chứng minh nhiều đồng tiền giảm sức mua một cách tồi tệ. Năm 1989, giá một kg thịt bò tại Nam Tư là 600.000 dinar, năm 1994 giá một kg thịt bò này là 10.000.000 dinar. Như vậy, vào năm 1994, với 600.000 dinar người ta không thể mua nổi 1 miếng thịt bò. Giá trị trao đổi của đơn vị dinar bị xuống dốc một cách khủng khiếp.

c. Các cấp độ của lạm phát

Lạm phát được biết rộng rãi với 03 cấp độ như sau:

  • Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán được. Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số. Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền, họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trong vòng một tháng hay một năm. Mọi người sẵn sàng làm những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị và chi phí  mua và bán sẽ không chệch đi quá xa.
  • Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi là lạm phát 2 hoặc 3 con số. Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữ tiền mặt.Mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanh toán hằng ngày vàthích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ.
  • Siêu lạm phát: tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm. Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn. Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng do tiền không còn làm được chức năng trao đổi. Nền tài chính bị khủng hoảng.

Lạm phát vừa phải là mức mà đa số các quốc gia đều mong muốn. Các quốc gia thường dùng các chính sách để kiềm chế, kích thích để mức lạm phát đạt ở ngưỡng vừa phải, từ đó nền kinh tế phát triển đi lên.

2. Nguyên nhân lạm phát và sự tác động đến nền kinh tế

a. Nguyên nhân lạm phát

Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu kéo được hiểu là khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên, sẽ kéo theo giá cả cũng tăng. Đồng thời dẫn đến giá cả của hàng loạt hàng hóa khác “leo thang”.

Ví dụ giá xăng tăng kéo theo giá thịt lợn tăng, giá nông sản tăng, giá phân bón tăng…

Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đầu vào của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố đầu vào tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên từ đó tạo ra lạm phát.

Ví dụ: Cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina diễn ra, khiến cho giá các loại nông sản như: lương thực, bông; thức ăn chăn nuôi; phân bón; kim loại công nghiệp; sắt thép xây dựng tăng cao dẫn tới lạm phát.

Lạm phát do cầu thay đổi

Xảy ra khi một mặt hàng tăng giá sẽ kéo theo mặt hàng thay thế cũng tăng giá theo, từ đó xảy ra lạm phát gia tăng do giá hàng hóa thay thế tăng.

Ví dụ: Giá dầu khi tăng cao, từ đó giá cao su nhân tạo tăng, nó sẽ khiến cầu về cao su thiên nhiên tăng từ đó khiến giá cao su thiên nhiên cũng tăng theo.

Lạm phát do xuất khẩu

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ gây ra lạm phát.

Ví dụ: Do nhu cầu sản xuất chip tăng mạnh trên thế giới khiến cầu phốt pho tăng mạnh, từ đó xuất khẩu phốt pho tăng khiến giá phốt pho tăng cao ở trong nước.

Lạm phát do nhập khẩu

Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

Ví dụ: Giá than thế giới đã tăng gấp 2 lần vào đầu năm 2022 từ đó khiến cho giá sản phẩm từ than nhập khẩu đã tăng rất mạnh.

Lạm phát do chính sách tiền tệ

Xảy ra khi lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế tăng rất mạnh, trong khi đó tổng sản phẩm sản xuất ra tăng thấp hơn nhiều khiến lạm phát tăng cao.

VD: Cuối năm 2009 đến đầu năm 2010 Việt Nam cung tiền ra thị trường tăng lên đến 30%-40%, trong khi đó GDP chỉ tăng mỗi năm từ 5-7%, từ đó khiến cho lạm phát năm 2011 tăng phi mã với gần 20%.

Hiện nay, do dịch bệnh và bất ổn chính trị trên thế giới đã làm giá của các mặt hàng thiết yếu tăng “chống mặt”, đơn cử như xăng dầu. Điều này đã kéo theo giá của các mặt hàng khác cũng tăng vì khi giá xăng dầu tăng dẫn đến chi phí để sản xuất ra các loại hàng hóa khác cũng tăng, hơn nữa do sự rối loạn chuỗi cung ứng trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã làm chi phí của các mặt hàng đồng loạt tăng, điều này đã góp phần lớn dẫn đến lạm phát.

3. Ảnh hưởng của lạm phát ra sao?

Trong điều kiện bình thường, nền kinh tế nào cũng tồn tại lạm phát và nó ở mức độ chấp nhận được, thường dưới 10%/năm đối với các nước đang phát triển. Khi nó vượt qua ngưỡng này thì lúc đó nó sẽ gây ra những hệ lụy, tác động đến sự phân phối của cải không theo nỗ lực công hiến và nhu cầu, ví dụ các hợp đồng tín dụng dài hạn.

Nó thường được tính toán dựa trên tỷ lệ lạm phát dự tính. Nếu lạm phát thực tế cao hơn lạm phát dự tính thì: Người đi vay, ngân hàng và doanh nghiệp được lợi, trong khi đó, người cho vay, người gửi tiết kiệm và người lao động nhận một số tiền lương cố định chưa được điều chỉnh theo lạm phát sẽ chịu thiệt.

Khi lạm phát xảy ra, chúng ta cần nhiều tiền hơn để sẵn sàng cho việc chi trả những món hàng hóa như khi chưa có lạm phát. Khiến chúng ta phải đi vay tiền tại tổ chức tín dụng chẳng hạn và các doanh nghiệp cũng cần phải vay vốn nhiều hơn để nhập nguyên vật liệu và hàng hóa duy trì hoạt động kinh doanh.

Nhiều người vay dẫn đến các ngân hàng phải tăng lãi suất, nếu lãi suất tăng nhiều mà doanh nghiệp sử dụng số tiền đó để kinh doanh, khoản lợi nhuận do kinh doanh mang lại nhỏ hơn số tiền lãi phải trả ngân hàng thì nền kinh tế có nguy cơ suy thoái vì các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất.

Lúc đó, số người thất nghiệp sẽ gia tăng, đời sống người dân sẽ khó khăn. Thu nhập người dân bị giảm mạnh. Một hệ lụy khủng khiếp là khi lạm phát xảy ra người giàu sẽ tích lũy tài sản và hàng hóa. Trong khi người nghèo không có đủ tiền mua sắm hàng hóa thiết yếu hàng ngày.

Có thể hiểu ở tầm vi mô như sau: Đối với lạm phát, giá tăng trong vài tháng có thể bằng số tiền lãi gửi ngân hàng trong 8 năm. Hay có thể hiểu khi bạn có trong tay 100 triệu và muốn mua 02 cây vàng thì khi đi qua lạm phát số tiền 100 triệu đó sẽ chỉ mua được 01 cây vàng. Đó chính là nguyên nhân khiến nhiều người đổ xô đi mua vàng, bởi họ sợ rằng đồng tiền cầm trong tay sẽ bị mất giá nhanh chóng.

4. Các loại hình đầu tư phổ biến khi lạm phát để giữ giá trị đồng tiền

a. Vàng

Đây là phương pháp truyền thống không chỉ ở Việt Nam mà còn xuất hiện nhiều ở các nước trên thế giới. Vì vàng trước tiên là một loại hàng hóa. Đặc điểm của loại hàng hóa này là rất quý hiếm, được mọi người yêu thích, không thay đổi chất lượng, dễ được nhận biết và được chấp nhận trao đổi. Chính vì vậy, vàng vừa là một loại hàng hóa, vừa là một công cụ trung gian trong trao đổi hàng hóa, tích trữ giá trị như tiền từ 5.000 năm nay. Và đồng tiền cũng chỉ là “hiện thân” cho giá trị của vàng chứ thực ra bản chất “tiền” không có giá trị. Vì vậy, đầu tư vào vàng khi đồng tiền mất giá (lạm phát) là sự lựa chọn hợp lý và mang tính khoa học nhất mà khó có kênh đầu tư nào thay thế được vì tính an toàn của vàng.

b. Bất động sản(BĐS)

– Đây cũng là phương pháp truyền thống để phòng chống lạm phát. Khi mà người Việt luôn có tư tưởng “giá đất chỉ có tăng chứ không giảm”. Nên nhiều người vẫn lựa chọn phương pháp này ngay sau phương pháp mua vàng.

– Nhược điểm của đầu tư BĐS chính là thanh khoản. Giá BĐS dự kiến sẽ tăng khi lạm phát xảy ra. Tuy nhiên, phía sau nó là một cuộc khủng hoảng kinh tế, do đó bạn có thể bị “kẹt” lại khi gặp vấn đề về thanh khoản.

c. Cổ phiếu

Lạm phát

 

Một ví dụ chứng tỏ sự tương quan giữa thị trường chứng khoán và tỷ lệ lạm phát, chúng ta hãy cùng nhìn biểu đồ của VN-Index từ năm 2002 – 2020 và những tác động của chỉ số CPI tới chứng khoán là như thế nào. CPI năm 2008 đạt mức cao nhất, thị trường chứng khoán cũng tạo đỉnh và rơi vào chu kỳ giảm sốc. 2009, lạm phát  được khống chế thành công, CPI ở mức thấp nhất khiến cho kinh tế vĩ mô ổn định và chứng khoán tăng lại. Năm 2011, lạm phát tăng trở lại khiến cho chứng khoán tiếp tục giảm trở lại. Năm 2015, lạm phát thấp kỷ lục, chứng khoán tăng mạnh mẽ.

Nhìn vào mối tương quan giữa tình hình lạm phát và thị trường chứng khoán Việt Nam những năm vừa qua, có thể nhận thấy: khi lạm phát tăng ở mức độ vừa phải kết hợp với  việc cung tiền tăng mạnh và mở rộng chi tiêu của chính phủ, hệ quả sẽ khiến cho thị trường chứng khoán tăng trưởng nóng. Nếu lạm phát tăng quá cao, vượt quá tầm kiểm soát cộng với việc thắt chặt tiền tệ sẽ khiến thị trường chứng khoán suy giảm nhanh. Nếu lạm phát giảm cộng với nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa thì hệ quả là thị trường chứng khoán sẽ tăng trở lại. Khi lạm phát tăng có mức độ nhưng không đến mức quá cao, cộng với chính sách tiền tệ thắt chặt thì thị trường chứng khoán sẽ đi ngang.

Nhìn chung, lạm phát tăng cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu.

Trên đây, là các thông tin tham khảo về lạm phát cũng như một số kênh đầu tư phổ biến trong thời kỳ lạm phát tăng cao. Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo.

LegalTech - Luôn vì bạn

Liên hệ – LegalTech

Phone: 0936 554 127

Email: info@legaltech.vn