NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Nhãn hiệu từ lâu đã trở thành thuật ngữ được sử dụng vô cùng rộng rãi trong nền kinh tế thị trường. Nhãn hiệu gắn liền với quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Các nhãn hiệu càng nổi tiếng thì càng được tin dùng và được nhiều khách hàng lựa chọn. Thế nhưng hiện nay vẫn còn những chủ doanh nghiệp không biết nhãn hiệu là gì cũng như không nhận thức được giá trị của nhãn hiệu đối với doanh nghiệp.

1. Nhãn hiệu nổi tiếng là gì?

Nhãn hiệu được hiểu cơ bản là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau, có thể nhìn thấy được, thể hiện dưới dạng từ ngữ, hình ảnh hoặc từ ngữ kết hợp với hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu hàng hóa hiện được xem là tài sản trí tuệ quý giá có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Với vai trò đó thì trong những năm gần đây, đã có rất nhiều doanh nghiệp đã bỏ rất nhiều công sức để xây dựng, phát triển những nhãn hiệu, thương hiệu riêng cho mình và đưa nhãn hiệu, thương hiệu của mình trở thành những nhãn hiệu, thương hiệu nổi tiếng.

Theo quy định tại khoản 20, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì Nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu như sau:

 “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi  trên toàn lãnh thổ Việt Nam”.

Quy định được nêu cụ thể trên đã giới hạn phạm vi nổi tiếng là trên lãnh thổ Việt Nam. Hiểu cơ bản rằng một nhãn hiệu dù nổi tiếng như thế nào trên thế giới đi nữa mà người tiêu dùng tại Việt Nam không biết đến thì nó cũng không được xem là nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo đó, nhãn hiệu nổi tiếng phải là nhãn hiệu đã được đưa ra trên phạm vi rộng là trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa là nếu một nhãn hiệu rất nổi tiếng trên thế giới, tuy nhiên nếu người tiêu dùng Việt Nam không biết đến, thì nhãn hiệu này chưa được coi là nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hiện nay, nhãn hiệu hàng hóa được xem là tài sản trí tuệ quý giá có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Chính bởi vì vậy hiện rất nhiều doanh nghiệp hiện nay đã bỏ không ít những công sức để xây dựng những nhãn hiệu riêng cho mình và đưa nhãn hiệu của mình trở thành nhãn hiệu nổi tiếng.

2. Các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng

Theo Luật Sở hữu trí tuệ đã đưa ra các tiêu chí đánh giá như sau:

Thứ nhất, số lượng người tiêu dùng liên quan đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn  hiệu hoặc thông qua quảng cáo;

Thứ hai, phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;

Thứ ba, doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

Thứ tư, thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

Thứ năm, uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

Thứ sáu, số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

Thứ bảy, số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu nổi tiếng;

Thứ tám, giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.

Dựa vào các tiêu chí này mà các tổ chức, cá nhân sẽ thu thập các chứng cứ liên quan đến quá trình sử dụng của nhãn hiệu để yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, đánh giá.         

Để có thể xác định xem một nhãn hiệu có được xem là nhãn hiệu nổi tiếng hay không thì sẽ cần phải dựa vào các tiêu chí để đánh giá như tiêu chí về số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; tiêu chí về thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; tiêu chí về uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó.

Trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng chỉ đặt ra vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mà không quy định các tiêu chí cụ thể xác định một nhãn hiệu như thế nào sẽ được coi là nổi tiếng. Việt Nam hiện đang là thành viên của một số các văn bản pháp luật quốc tế nên việc xác định phải thiết lập một hình thức pháp lý rõ ràng cụ thể để đưa các quy định của công ước, hiệp định đi vào áp dụng trong thực tiễn là điều cần thiết.

Như vậy, căn cứ theo phương pháp đánh giá dựa theo các tiêu chí như nêu ở trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đa số các tiêu chí đánh giá theo quy định trên đây là chưa đầy đủ, chỉ mang tính định tính chung chung mà không cụ thể, không có định lượng một cách rõ ràng.

Bên cạnh đó, ta có thể nhận thấy có sự mâu thuẫn giữa các quy định về tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, nếu trong định nghĩa tại Khoản 20, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ đưa ra khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng là chỉ cần được người tiêu dùng biến đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì trong Khoản 6, Khoản 7, Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ 2005 về các tiêu chí đánh giá lại có yêu cầu thêm về số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu, số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, vậy ví dụ một nhãn hiệu đã đạt được đủ số lượng người trong toàn lãnh thổ quốc gia biết đến nhưng lại không đạt về tiêu chí số lượng quốc gia công nhận và bảo hộ thì liệu nhãn hiệu đó có phải nhãn hiệu nổi tiếng không,

Từ đây ta nhận thấy, để đánh giá sự nổi tiếng của nhãn hiệu, không nhất thiết phải đánh giá tất cả các tiêu chí trên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên qua các phân tích trên đây, ta thấy rõ là các quy định về tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng cần phải được xem xét và làm rõ hơn để có thể đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các doanh nghiệp.

Để được tư vấn chi tiết, vui lòng liên hệ LegalTech.