PHÂN BIỆT ĐẶT CỌC VÀ TRẢ TRƯỚC

PHÂN BIỆT ĐẶT CỌC VÀ TRẢ TRƯỚC

Phân biệt đặt cọc và trả trước là điểm quan trọng mà chúng ta phải biết khi giao kết hợp đồng. Vì đặt cọc và trả trước là hai thuật ngữ rất phổ biến khi giao kết hợp đồng nhưng lại dễ gây nhầm lẫn. Khi nào được xem là tiền đặt cọc và khi nào được xem là tiền trả trước? Sự khác nhau về hệ quả pháp lý của hai khoản tiền này là gì?

Đặt cọc và trả trước

Tiêu chí Đặt cọc Trả trước
Khái niệm Là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng (Khoản 1 Điều 328 BLDS 2015). Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về trả trước. Tuy nhiên, trong việc áp dụng thực tiễn xét xử và và nghĩa của từ trả trước, ta có hiểu như sau: Trả trước là việc bên có nghĩa vụ trả tiền tiến hành trả trước một khoản tiền cho bên có quyền. Có thể hiểu đây chỉ là việc thực hiện trước một phần nghĩa vụ thanh toán, cụ thể là chuyển giao trước một phần khoản tiền.
Bản chất Là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (Điều 292 BLDS 2015). Không phải là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Hệ quả pháp lý + Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền;

+ Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc;

+ Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.[1]

+ Các bên có thể thỏa thuận phạt cọc gấp 2 đến nhiều lần giá trị tài sản đặt cọc và thỏa thuận phạt cọc này phải ghi trong hợp đồng, đây được xem như chế định phạt vi phạm hợp đồng.

+ Vì đây là tiền trả trước, nên khi có bên vi phạm nghĩa vụ hay không tiến hành giao kết hợp đồng như ý chí ban đầu thì khoản tiền trả trước về nguyên tắc sẽ được hoàn trả lại cho bên đã trả trước và sẽ không chịu bất cứ khoản phạt nào.

+ Trường hợp một bên trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước (Điều 29 Nghị định 163/2006/NĐ-CP[2]).

 

[1] Khoản 2 Điều Điều 328 BLDS 2015.

[2] Nghị định 163/2006/NĐ-CP sẽ được thay thế bằng Nghị định 21/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/05/2021.

 

Để tìm hiểu thêm về đặt cọc và trả trước, vui lòng liên hệ.