GÓP VỐN BẰNG PHẦN MỀM

GÓP VỐN BẰNG PHẦN MỀM

Góp vốn bằng phần mềm là một hình thức còn khá mới lạ đối với doanh nghiệp Việt Nam. Vậy pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?

Góp vốn bằng phần mềm

>> Xem thêm: Biên bản định giá tài sản góp vốn

1. Tài sản góp vốn:

Theo quy định tại Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020, tài sản góp vốn là: Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản nêu trên mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật.

2. Quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm:

  • Theo quy định tại Điều 19 VBHN số 07/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, chương trình máy tính là loại hình được bảo hộ quyền tác giả. Và tại Điều 22 Văn bản hợp nhất này quy định: “Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể.” Theo cách giải thích này, phần mềm chính là chương trình máy tính.

 

  • Điều 13 VBHN số 07/VBHN-VPQH năm 2019 quy định:

“Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Nếu người góp vốn đáp ứng các điều kiện nêu trên, thì là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả của phần mềm mà họ muốn góp vốn.

Vậy, nếu người góp vốn là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần mềm mà họ muốn góp vốn, thì phần mềm đó hoàn toàn có thể trở thành tài sản góp vốn.

3. Định giá phần mềm được dùng làm tài sản góp vốn:

Theo quy định tại Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020, việc định giá được thực hiện như sau:

Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc đồng thuận hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% số thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.

Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận.

4. Chuyển quyền sở hữu phần mềm được dùng làm tài sản góp vốn:

Theo quy định tại Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020: Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:

  1. Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty theo quy định của pháp luật. Việc chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;
  2. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản, trừ trường hợp được thực hiện thông qua tài khoản.

Theo quy định tại Điều 6 VBHN số 07/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Vậy, ta có 2 trường hợp:

  • Nếu phần mềm đó đã được người góp vốn đăng ký bảo hộ quyền tác giả, thì người góp vốn bằng phần mềm phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phần mềm đó cho công ty.
  • Nếu phần mềm đó chưa được người góp vốn đăng ký bảo hộ quyền tác giả, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản. Biên bản giao nhận phải có đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 45 VBHN số 07/VBHN-VPQH năm 2019, sau khi nhận chuyển giao quyền sở hữu phần mềm, doanh nghiệp cũng chỉ là chủ sở hữu các quyền tài sản (quyền sao chép, phân phối, cho thuê,…) và quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố phần mềm này, nhưng không có quyền đặt tên, đứng tên thật đối với phần mềm.

Để tìm hiểu thêm về tài sản góp vốn, vui lòng liên hệ.